![]() |
| NDĐT- Kết quả rà soát quy hoạch thủy điện trong Báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội ngày 30-10 cho thấy đã loại bỏ 424 dự án thủy điện. Không xem xét đưa vào quy hoạch 172 vị trí tiềm năng, tạm dừng có thời hạn 136 dự án, tiếp tục rà soát, đánh giá 158 dự án thủy điện. |
Cả nước hiện còn lại 815 dự án thủy điện Báo cáo do Bộ trưởng Bộ công thương Vũ Huy Hoàng trình bày cho biết, theo các quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương và UBND các tỉnh phê duyệt theo thẩm quyền, trên cả nước có 1.239 dự án thủy điện. Từ tháng 1 đến tháng 4-2013, Bộ Công Thương đã có văn bản yêu cầu và hướng dẫn UBND các tỉnh tiếp tục rà soát, đánh giá về quy hoạch, đầu tư xây dựng và vận hành khai thác các dự án thủy điện (DATĐ) trên địa bàn. Đồng thời, đã phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tập đoàn Điện lực Việt Nam và UBND các tỉnh thành lập các Đoàn công tác liên ngành, làm việc trực tiếp tại 20 tỉnh có nhiều DATĐ. Ngày 21-5-2013, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định đồng ý loại khỏi quy hoạch tổng số 405 DATĐ; không xem xét đưa vào quy hoạch 172 vị trí tiềm năng thủy điện nhỏ. Tất cả các DATĐ, vị trí tiềm năng được loại bỏ này đều thuộc đối tượng hiệu quả kinh tế thấp, tiềm ẩn khả năng tác động tiêu cực đến môi trường - xã hội. Khoảng 34% tổng số dự án TĐ vừa và nhỏ đã loại bỏ khỏi quy hoạch. Cả nước hiện còn lại 815 dự án thủy điện. Đối với các DATĐ còn lại trong quy hoạch nhưng chưa khởi công xây dựng hoặc mới triển khai thi công ở giai đoạn đầu, trên cơ sở kiến nghị của Bộ Công Thương, Thủ tướng Chính phủ cũng đã chỉ đạo UBND các tỉnh và chủ đầu tư các dự án tiếp tục rà soát, đánh giá kỹ hiệu quả và các tác động MT-XH... Sau khi loại bỏ các DATĐ nêu trên, cả nước hiện còn lại 815 DATĐ. Trong đó, đã vận hành phát điện 268 dự án (14.240,5 MW); đang thi công xây dựng 205 dự án (6.198,8 MW), dự kiến đưa vào vận hành khai thác từ nay đến năm 2017. Về DATĐ Đồng Nai 6 và 6A, sau khi có báo cáo số 142/BC-BTNMT ngày 30 tháng 8 năm 2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo tại văn bản số 7958/VPCP-KTN ngày 23 tháng 9 năm 2013 về hại dự án này. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương đã loại hai DATĐ này khỏi quy hoạch. Phê duyệt Quy trình vận hành liên hồ Liên quan đến việc quản lý, vận hành các hồ chứa thủy lợi, thủy điện, Đến nay, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy trình vận hành liên hồ về mùa lũ trên 5 lưu vực sông thường xuyên xảy ra lũ lụt (gồm 20 hồ chứa đã vận hành) như sau: Lưu vực sông Hồng: Quy trình vận hành liên hồ chứa Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang và Thác Bà; Lưu vực sông Ba: Quy trình vận hành liên hồ chứa Sông Ba Hạ, Sông Hinh, Krông Hnăng, Ayun Hạ và An Khê - Ka Nắk; Lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn: Quy trình vận hành liên hồ chứa A Vương, Đắk Mi 4 và Sông Tranh 2; Lưu vực sông Srêpốk: Quy trình vận hành liên hồ chứa Buôn Tua Srah, Buôn Kuốp, Srêpốk 3 và Srêpốk 4; Lưu vực sông Sê San: Quy trình vận hành liên hồ chứa Plei Krông, Ialy, Sê San 4 và Sê San 4A. Hiện nay, Bộ TN&MT cũng đang tập trung xây dựng để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy trình vận hành liên hồ chứa cả về mùa lũ và mùa kiệt cho các lưu vực sông lớn, dự kiến hoàn thành từ nay đến năm 2015. Thẩm tra báo cáo của Chính phủ về kết quả rà soát quy hoạch, đầu tư xây dựng các dự án thủy điện và vận hành khai thác các công trình thủy điện của Ủy ban Khoa học, công nghệ và Môi trường của Quốc hội nhận định: Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã tích cực chỉ đạo, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, bảo đảm chất lượng công trình thủy điện. Đối với các công trình TĐ lớn có khoảng 90% số đập đã được kiểm định, 70% số đập đã được cắm mốc giới, 60% số đập đã có phương án bảo vệ, 80% công trình TĐ đã có phương án PCLB. Hiện nay các công việc này đang được tiếp tục triển khai. Tuy nhiên, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường nhận thấy, có giai đoạn việc quản lý chất lượng công trình xây dựng hầu như được giao hoàn toàn cho chủ đầu tư thực hiện và tự chịu trách nhiệm, thiếu sự kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước. Khâu khảo sát, thiết kế, thi công, giám sát có nhiều hạn chế, gây không ít hệ lụy tiêu cực. Trong khi đó, trách nhiệm, xử lý sai phạm của chủ đầu tư, các chủ thể khác có liên quan khi công trình có chất lượng kém hoặc để xảy ra sự cố chưa được quy định cụ thể. Công tác quản lý an toàn tại các công trình TĐ nhỏ chưa thực sự tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật, tiềm ẩn nhiều rủi ro khó lường. Đối với các công trình TĐ nhỏ, gần 30% số đập chưa được kiểm định; khoảng 6% số chủ đầu tư hoàn thành cắm mốc chỉ giới; khoảng 66% đập chưa có phương án bảo vệ được phê duyệt; gần 55% số chủ đập chưa có phương án PCLB. Hiệu quả làm việc của hệ thống quan trắc tại một số công trình TĐ là rất thấp. Việc xây dựng phương án PCLB cho vùng hạ du trong tình huống xả lũ khẩn cấp, vỡ đập... gặp nhiều khó khăn, ít được quan tâm. Nguyên nhân của những bất cập nêu trên là không ít chủ đầu tư dự án TĐ nhỏ có năng lực chuyên môn và tài chính hạn chế; quy định về chế tài xử phạt vi phạm về an toàn đập, kiểm định đập; vai trò, trách nhiệm, sự phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước và chủ đầu tư chưa được ban hành kịp thời, rõ ràng và chưa được thực thi đầy đủ. Trong thời gian qua, một số sự cố dự án, công trình TĐ vừa và nhỏ khu vực miền Trung, Tây Nguyên đã xảy ra, gây thiệt hại về người và tài sản. Sự cố, hiện tượng bất thường tại công trình TĐ Sông Tranh 2 (tỉnh Quảng Nam) như thấm nước qua thân đập, động đất kích thích… đã ảnh hưởng nhiều đến đời sống sinh hoạt, sản xuất của cộng đồng dân cư và hiệu quả hoạt động của công trình. Tình hình trên cho thấy nhiệm vụ bảo đảm yêu cầu chất lượng, an toàn đối với công trình TĐ, đặc biệt là TĐ vừa và nhỏ phải được đặt lên hàng đầu. Trong không ít trường hợp, an toàn đập, hồ chứa công trình TĐ còn gắn với an ninh quốc gia. Ủy ban KHCN&MT đề nghị Chính phủ chỉ đạo tiếp tục rà soát, đánh giá, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan tới đầu tư xây dựng, vận hành đập và hồ chứa TĐ, cụ thể là các quy định về kiểm định, bảo đảm an toàn, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Ngoài ra, cần tiếp tục đầu tư nguồn lực cho xây dựng, vận hành hệ thống quan trắc, giám sát, điều tra, khảo sát điều kiện tự nhiên; nghiên cứu, xây dựng các kịch bản phòng chống lũ lụt vùng hạ du, ứng phó sự cố xả lũ khẩn cấp, tình huống vỡ đập. |
| ĐẶNG GIANG |